Showing posts with label kien-thuc-am-nhac. Show all posts
Showing posts with label kien-thuc-am-nhac. Show all posts

Monday, January 26, 2015

Những khái niệm cơ bản về lĩnh vực audio

Khi mới bắt đầu tiếp xúc, làm việc trong một lĩnh vực mới nào đó, thì bạn cần phải tìm hiểu những kiến thức cơ bản về nó. Đây là điều đương nhiên, tuy nhiên rất nhiều người không chú ý đến điều này mà lao vào học những cái cao siêu, dẫn đến mất căn bản trầm trọng trong lĩnh vực đó. Bài viết này sẽ đề cập đến những khái niệm cơ bản về lĩnh vực audio mà nhiều người làm âm thanh hiện nay đôi lúc còn chưa chú ý đến.

Thông thường người ta sẽ sử dụng các thiết bị âm thanh vào 2 mục đích phổ biến nhất đó là phát lại hoặc ghi âm âm thanh. Chính vì thế trong bài viết này mình sẽ đề cập với các bạn về những khái niệm đơn giản, cơ bản nhất về quá trình ghi và tái tạo âm thanh phổ thông. Đây sẽ là những kiến thức nền tảng giúp các bạn hiểu rõ hơn về các quá trình ghi âm cũng như tái tạo âm thanh trong lĩnh vực audio.

1. Quá trình ghi âm

Ghi âm (hiện đại hơn là thu âm) là một nhu cầu rất phổ biến hiện nay, đặc biệt đối với các bạn trẻ. Thử nghĩ xem nếu như bạn có đầy đủ các thiết bị để tạo thành một phòng thu mini ở nhà, tới các dịp như sinh nhật hoặc những ngày kỉ niệm, việc cùng người thân thu âm một bài hát tặng cho ai đó sẽ là một món quà cực kì độc đáo và ý nghĩa.
khai niem co ban ve am thanh


Để chuẩn bị cho quá trình ghi âm, cần có nguồn âm, thiết bị chuyển tải, xử lý, ghi tín hiệu và định dạng đích cho tín hiệu âm thanh cần ghi. Trước đây thì chủ yếu người ta định dạng đích theo tín hiệu analog, ghi bằng cách tạo ra những rãnh (vật lý) trên đĩa nhựa. Người ghi âm có thể điều khiển độ nông sâu của rãnh theo dạng sóng âm cần ghi, và trên đĩa sẽ có những rãnh mô phỏng dạng sóng âm. Ngoài ra thì còn có thể ghi trên các băng từ, mở bằng máy cassette.
Nhưng ngày nay thì công nghệ phát triển hơn rất nhiều, người ta sẽ dùng các loại tín hiệu số (tín hiệu digital) để thay thế cho các dạng tín hiệu analog. Điều này có thể hiểu như là mỗi tần số âm thanh tương tự được mã hóa thành một dãy số và ghi vào đĩa CD. Nhưng để mã hóa được toàn bộ dải sóng âm thanh liên tục thì số lượng ký tự cần dùng không có giới hạn.Vì vậy, người ta không mã hóa và ghi lại toàn dải sóng âm, mà chỉ ghi các giá trị tương tự, cách đều, đủ gần trên trục thời gian. Các điểm tín hiệu âm thanh tương tự được mã hóa và ghi lại gọi là điểm trích mẫu. Thiết bị mã hóa chuỗi tín hiệu âm thanh tương tự thành dãy số được gọi là Analog to Digital Converter (viết tắt là ADC).
Để hiểu rõ hơn về các thiết bị cần có để tạo thành phòng thu âm gia đình, các bạn có thể tham khảo bài viết: Các thiết bị tạo nên phòng thu âm gia đình

2. Quá trình tái tạo âm thanh

Trong quá trình tái tạo âm thanh ở các thiết bị trước đây, ví dụ như máy hát cổ, chỉ cần có một màng rung gắn một chiếc kim lướt tỳ nhẹ vào các rãnh âm có trên đĩa nhựa, màng rung sẽ sẽ rung theo độ nông sâu của rãnh. Đối với băng từ thì cuộn dây bên trong băng từ sẽ được kéo chạy qua khe hẹp của lõi sắt từ (đầu từ) khi đó trên cuộn dây sẽ xuất hiện sức điện động theo dạng tín hiệu được ghi trên băng từ. Và khi đó cả máy hát cổ lẫn băng từ chỉ cần có thêm một thiết bị khuếch đại các tín hiệu âm thanh này thì người nghe có thể thưởng thức âm thanh phát ra từ loa.
Còn với đĩa CD thì đầu đọc sẽ tải toàn bộ dữ liệu âm thanh kỹ thuật số vào một bộ nhớ tạm để có thể giải mã tuần tự từng dãy số (chứa thông tin mã hóa các tín hiệu âm thanh tương tự) đạt tốc độ phù hợp. Trong quy trình này, các chuỗi tín hiệu mã hóa từ CD vừa lưu vào bộ nhớ tạm được”đánh thức”bởi đầu đọc quang học và chuyển đến ngõ vào của thiết bị giải mã dữ liệu số ra tín hiệu tương tự gọi là Digital to Analog Converter (DAC). Tại ngõ ra của DAC xuất hiện tín hiệu âm thanh tương tự vào thời điểm trích mẫu tương ứng lúc ghi. Phần công việc còn lại cũng thuộc về bộ khuếch đại và các loa.
nhung khai niem co ban ve linh vuc audio
Cổng ra tín hiệu analog hoặc digital

3. Nguồn âm

Chúng ta có 2 dạng nguồn âm cơ bản đó là nguồn âm mono và nguồn âm stereo. Đây cũng là một vấn đề rất cơ bản về âm thanh mà các bạn có thể tìm hiểu sự khác nhau giữa 2 loại nguồn âm này qua các bài viết trên internet. Giải thích đơn giản thì với nguồn âm mono, tín hiệu âm thanh chỉ được ghi vào một kênh, và âm thanh phát ra là như nhau giữa các loa trong bộ dàn.
Còn đối với với âm thanh Stereo, âm thanh sẽ được tái tạo bởi 2 hệ tái tạo âm thanh 2 kênh, thể hiện được vị trí trái phải của âm thanh trong quá trình trình diễn. Đây là dạng nguồn âm sử dụng rất nhiều trong quá trình nghe nhạc, và không phù hợp khi sử dụng tái tạo âm thanh trong phim ảnh. Vì đối với việc tái tạo âm thanh của một bộ phim, người ta đòi hỏi âm hình còn phải đi theo lô-gíc tiền và hậu cảnh hoặc mô phỏng được tổ hợp phải trước – trái sau…Chính vì thế trong các bộ phim thường sẽ sử dụng các hệ thống ghi nhiều kênh hơn. Nếu bạn xem một đĩa phim mà âm thanh chỉ là 2 kênh, thì đó đích thực là loại đĩa đã hỏng âm gốc trong quá trình sao chép.
Ngoài ra thì hiện nay các hệ thống âm thanh đa kênh cũng sử dụng để nghe nhạc rất hiệu quả, vì ngày nay các ban nhạc nổi tiếng trên thế giới cũng đã bắt đầu ghi âm các loại album của họ trên các hệ thống âm thanh đa kênh. Và như thế khi sử dụng dàn âm thanh stereo để nghe các bản nhạc này thì sẽ bỏ sót khá nhiều tín hiệu âm thanh.
he thong loa 5.1
Hệ thống loa 5.1
Các hệ thống âm thanh đa kênh phổ biến hiện nay bao gồm: hệ thống 5.1, 7.1, 9.1... Các con số trước dấu chấm là số kênh độc lập của hệ thống, còn số sau dấu chấm sẽ là số lượng loa sub (loa siêu trầm) trong hệ thống âm thanh đó.
Đó là một số khái niệm cơ bản nhất về lĩnh vực Audio, với 2 kỹ thuật phổ biến: ghi âm và tái tạo âm thanh. Hy vọng bài viết sẽ mang lại thêm những kiến thức hữu ích cho các bạn trong quá trình tím hiểu về lĩnh vực âm thanh này.
Tham khảo thêm bài viết: Sơ đồ hệ thống âm thanh cơ bản

Friday, January 23, 2015

Ứng dụng của loa monitor trong hệ thống âm thanh

Hiện nay, trong những hệ thống âm thanh dù là chuyên nghiệp hay là những dàn âm thanh bình dân nhưng nếu có ca sĩ, nghệ sĩ biểu diễn đàn hát thì loa monitor là một thiết bị không thể thiếu. Với bài viết này mình sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn thế nào là loa monitor và ứng dụng của loa monitor trong hệ thống âm thanh.

Một số bạn khi tìm hiểu về  thiết bị âm thanh, đặc biệt là loa thì thường sẽ nghe về thuật ngữ loa monitor. Chắc chắn nhiều bạn sẽ thắc mắc tại sao lại có tên gọi như vậy, phân biệt giữa các loại loa với nhau để làm gì?
ung dung cua loa monitor trong he thong am thanh
Thiết kế đặc trưng của những dòng loa monitor thường được đặt nằm ngang.
Khái niệm về loa Monitor của các nhà sản xuất chỉ mang tính tương đối, như một thuật ngữ chuyên môn chứ khó có thể giải thích rõ ràng về loại loa này lại có tên như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn đó là khi nói về loa Monitor nghĩa là người ta đang muốn nói về một loại loa cho chất lượng âm thanh rất trung thực (không hề có những hiệu ứng âm thanh thêm vào) đến mức khô khan, nhiều người cảm thấy rất khó nghe.
Người ta thường so sánh ví von loa Monitor với màn hình máy tính như thế này: Trong bộ máy vi tính để bàn, màn hình được gọi là Monitor. Microsoft có thuật ngữ miêu tả màn hình như sau: WYSIWYG (What you see is what you get). Có nghĩa là: Những gì bạn thao tác với hệ thống máy đều hiện qua màn hình, những gì bạn thấy là tất cả những gì mà hệ thống có thể có được. Tương tự như vậy, các nhà sản xuất thiết bị âm thanh khi sử dụng từ Monitor cũng như ngầm muốn khẳng định về âm thanh mà loại loa này mang lại cho người sử dụng. 

Ứng dụng chủ yếu của những dòng loa Monitor đó là dành cho những hệ thống âm thanh sân khấu, phòng thu. Nếu để ý các sân khấu biểu diễn, sẽ có một vài chiếc loa nằm hướng về phía ca sĩ và ban nhạc chứ không hướng về phía người nghe. Đó chính là loa Monitor. Với khả năng cho ra âm thanh trung thực nhất của mình, loa Monitor sẽ giúp ban nhạc và nghệ sĩ nghe và biểu diễn sao cho âm thanh hay nhất, không bị lạc tông, lạc điệu giữa nhạc và lời hát, đảm bảo sự phối hợp giữa giọng hát và các loại nhạc cụ trở nên nhịp nhàng, hài hòa với nhau. Phòng thu cũng là một hệ thống buộc phải có loa Monitor, vì âm thanh trong phòng thu đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối để có thể chỉnh sửa âm thanh một cách phù hợp nhất.
loa monitor phong thu maudio bx5
Nhưng đối với loa monitor dành cho phòng thu thì thiết kế có phần giống với những dòng loa nghe nhạc dành cho máy tính nhiều hơn.
Thông thường, các nhà sản xuất thường đặt tên mã sản phẩm cho loa Monitor có kí tự "M" phía sau, và có thiết kế rất đặc trưng, dễ nhận biết so với những dòng loa khác với dạng nằm nghiêng, 2 cạnh loa được cắt không đối xứng nhau. Loa monitor có góc phóng được thiết kế đảm bảo để không bị hú, hạn chế tối đa những tiếng hú (feedback) khi ca sĩ hoặc band nhạc biểu diễn. Tầm phóng của những loại loa này thường sẽ ngắn hơn so với các loại loa đặt trước sân khấu, hướng đến khán giả (loa Front of house - FOH).
Trong một vài trường hợp cụ thể thì loa Monitor cũng có thể đóng vai trò thay thế các loại loa FOH, nhưng nếu ngược lại thì sẽ không phù hợp. Chính vì thế mà trong một vài hệ thống âm thanh gia đình, người ta đã bắt đầu sử dụng thêm các loại loa Monitor. Hiện nay công nghệ phát triển, nhiều hãng thường sản xuất chung một loại loa vừa có khả năng đóng vai trò là loa Monitor, vừa có thể làm loa FOH được. Và thiết kế của loại loa này thì tương tự như thiết kế của loa Monitor thông thường, 2 cạnh không đối xứng. Người dùng có thể đặt nằm nghiêng hoặc dựng đứng đều được.
loa monitor soundking ka15ma
Hoặc một số thiết kế mới nhưng cũng rất dễ nhận biết đây là  một dòng loa monitor.
Còn trong các trường hợp nhà sản xuất thiết kế riêng biệt giữa 2 loại loa này thì mức giá của loa Monitor có thể sẽ cao hơn hoặc bằng loa FOH có cùng Series, điển hình như loa thùng Soundking F212 và Soundking F212M.
Đó là một số ứng dụng đặc trưng và kiến thức cơ bản nhất để nhận biết về loa Monitor, theo sự tìm hiểu và khảo sát thực tế của mình. Hy vọng bài viết ứng dụng của loa monitor trong hệ thống âm thanh này sẽ giúp các bạn có thêm được kiến thức về một loại loa mới, rất phổ biến mà chúng ta hay gặp tại các sân khấu biểu diễn.

Tuesday, December 30, 2014

Tìm hiểu về cơ chế hoạt động của Crossover - P.2


Trong bài viết trước, chúng ta đã phần nào biết được ý nghĩa của mạch phân tần là như thế nào và sự so sánh sơ bộ giữa mạch phân tần chủ động và thụ động. Tuy vậy, bài viết đó chỉ dừng lại ở mức khái niệm chung chung và xem bộ phân tần như một chiếc “hộp đen” bí hiểm khiến cho không ít bạn đọc còn cảm thấy rất mù mờ, không biết cấu tạo cụ thể và nguyên tắc hoạt động của mạch phân tần như thế nào mà nó có thể giúp phân chia tín hiệu âm thanh thành các dải tần tách biệt như vậy. Trong bài tìm hiểu về cơ chế hoạt động của Crossver – P.2 này, tôi xin cùng các bạn, đặc biệt là những bạn mới bước chân vào thế giới âm thanh, cùng tiến hành mổ xẻ chiếc “hộp đen” trên để hiểu rõ hơn về mạch phân tần.

tim hieu ve co che hoat dong cua crossover 1
Một dạng mạch phân tần thụ động được tích hợp sẵn trong loa
Thông thường ta thường nghe thấy nói về mạch phân tần dạng chủ động và dạng bị động. Mạch phân tần chủ động nằm trước amply công suất, chúng chia tín hiệu âm thanh thành nhiều dải riêng biệt, mỗi dải được chuyển đến một amply công suất riêng. Mạch phân tần thụ động trái lại nằm sau amply công suất và nằm trước loa. Do nằm sau amply công suất nên mạch phân tần phải hoạt động ở mức tín hiệu đã được khuếch đại và chính vì thế các linh kiện phải có công suất lớn và mạch phân tần thụ động thường được tích hợp trong loa. Ngoài ra còn một dạng mạch phân tần nữa là dạng mạch phân tần thụ động hoạt động ở mức tín hiệu thấp chưa được khuếch đại nhằm tận dụng ưu điểm của hai mạch phân tần ở trên. Tuy vậy, mạch phân tần dạng này không được sử dụng phổ biến như hai loại trên. Trong phần này, chúng ta chỉ tập trung nói về mạch phân tần chủ động.

Trước khi đi sâu vào cấu tạo của mạch phân tần, ta cùng xem qua về những chiếc loa một chút. Nếu ta có một chiếc loa lý tưởng, có thể thể hiện được giải âm tần từ 20Hz-20kHz (dải âm tần mà tai người nghe được), ta sẽ không phải bận tâm đến việc dùng bộ phân tần và chắc cũng không cần quan tâm đến cấu tạo và nguyên lý hoạt động của chúng. Tuy vậy, hiện tại, gần như không có một chiếc loa nào có thể đáp ứng được yêu cầu như vậy (ngay cả những chiếc loa được xem là toàn dải tốt nhất cũng thường chỉ đáp ứng được tốt trong phạm vi hẹp hơn nhiều: thường là 100Hz-10kHz).
Tại sao những chiếc loa lại không thể thực hiện được công việc tưởng chừng đơn giản như vậy? Lý do nằm ở chỗ để thể hiện được những âm thanh ở tần số thấp (thường từ trung trầm trở xuống) những chiếc loa cần có màng loa đủ lớn để di chuyển được một lượng không khí lớn (do âm trầm có bước sóng rất dài). Trái lại, để tái hiện tốt âm thanh ở tần số cao (từ trung cao trở lên), các loa lại đòi hỏi phải có màng loa đủ nhỏ để có thể di chuyển nhanh, đáp ứng được tốc độ theo đúng tần số rung lớn. Chính do hai yêu cầu hoàn toàn trái ngược trên mà các loa hầu như không thể đáp ứng cùng lúc được dải tần cao và thấp. Và do vậy, chúng ta cần phải sử nhiều loa khác nhau để phối hợp với nhau trong việc tái hiện lại toàn bộ dải tần âm thanh mong muốn. Đây chính là nguyên nhân khiến cho việc sử dụng mạch phân tần hiện nay gần như không thể tránh khỏi.
Quay trở lại với chiếc “hộp đen” của chúng ta. Nếu có dịp mở một chiếc loa và nhìn vào mạch phân tần thông thường, ta thường thấy có 3 loại linh kiện chính sau: tụ điện, cuộn cảm và điện trở. Các linh kiện này được lắp với nhau theo một cách rất phức tạp tạo nên một mạch điện mà ta thường gọi là mạch phân tần. Vậy nguyên tắc hoạt động của mỗi loại linh kiện trong mạch phân tần như thế nào sẽ từng bước được xem xét dưới đây:
Điện trở: Điện trở là một loại linh kiện tạo nên một sự cản trở nhất định đến dòng điện chạy qua chúng, do vậy dòng điện sau khi qua khỏi điện trở sẽ bị giảm điện thế. Khi được lắp trước loa, điện trở sẽ làm cho loa kêu nhỏ hơn. Do tính chất như thế, điện trở thường được dùng để điều chỉnh mức độ tiếng lớn nhỏ cho các loa. Chúng chỉ làm giảm mức tín hiệu âm thanh vào loa chứ không làm thay đổi dải tần của âm thanh.
dien tro
Những chip điện trở sẽ hạn chế sự tăng đột ngột của dòng điện, hạn chế  hư hỏng thiết bị
Cuộn cảm: Cuộn cảm là một cuộn dây, chúng có thể được quấn trên lõi sắt hoặc không có lõi gì (lõi không khí). Không như điện trở, cuộn cảm là một linh kiện có sự cản trở rất lớn với những tín hiệu ở tần số cao nhưng gần như không cản trở những tín hiệu ở tần số thấp (trong thực tế các cuộn cảm vẫn có điện trở thuần và do vậy cũng có thêm tác dụng như một điện trở nhỏ tuy không đáng kể). Tùy theo trị số (tính bằng Henry) mà cuộn cảm có tác dụng lọc bỏ tín hiệu từ một tần số nào đấy trở lên. Với cùng một độ lớn, cuộn cảm được quấn trên lõi sắt thường có số vòng dây ít hơn cuộn cảm lõi không khí. Tuy vậy, các cuộn cảm lõi sắt thường dễ bị bão hòa ở mức tín hiệu lớn và tạo ra hiện tượng méo âm.
cuon cam
Cuộn cảm hạn chế những tín hiệu tần số cao và giảm sự méo tiếng của âm thanh
Tụ điện: Có tác dụng trái ngược với cuộn cảm với dải tần âm thanh, tụ điện gây cản trở rất lớn đến tín hiệu âm thanh ở tần số thấp. Tùy theo trị số (tính bằng Farad) mà tụ điện có tác dụng lọc tín hiệu từ một tần số nào đó trở xuống.
tu dien
Tụ điện thì có tính năng ngược lại với cuộn cảm, đó là hạn chế tín hiệu âm thanh ở tần số thấp
Ta hãy cùng xem xét một trường hợp cơ bản và rất thông dụng đó là trường hợp ta dùng 2 chiếc loa (một thể hiện dải trung – trầm, một thể hiện dải trung cao – cao) trong một thùng loa. Trong trường hợp này, tuy mạch phân tần có thể được cấu tạo rất phức tạp và vẫn được chúng ta quen gọi là mạch phân tần nhưng nếu xem xét kỹ, ta sẽ thấy chúng được cấu tạo từ 2 mạch cơ bản: mạch lọc thông thấp (lowpass) và mạch lọc thông cao (highpass). Hai mạch lọc này được mắc song song với nhau sau amply.
Mạch lọc thông thấp là mạch lọc loại bỏ phần âm thanh ở tần số cao trong khi vẫn duy trì không thay đổi dải âm ở tần số thấp. Cuộn cảm được đề cập ở trên có tác dụng lọc tần số cao và không thay đổi tần số thấp nên ta có thể hình dung là nếu được nối theo một cách thích hợp thì nó sẽ là một bộ phận chính trong mạch lọc thông thấp.
Mạch lọc thông cao thì ngược lại, chúng loại bỏ các tín hiệu có tần số thấp và cho các tín hiệu có tần số cao đi qua. Và một lần nữa ta thấy đây chính là trường hợp của tụ điện. Mạch lọc thông cao cơ bản chỉ bao gồm một tụ điện mà thôi.
Trong trường hợp phức tạp hơn một chút, loa thùng của chúng ta có thể có 3 củ loa, mỗi chiếc đảm nhận thể hiện âm thanh ở trong một dải nhất định. Trong trường hợp này, ngoài sự hiện diện của một mạch lọc thông cao và một mạch lọc thông thấp, ta còn thấy một mạch lọc gọi là “bandpass”. Mạch lọc này cho các tín hiệu phần tiếng trung đi qua còn phần tiếng treble và tiếng bass được loại bỏ.
Về cấu tạo, mạch lọc bandpass chính là sự kết hợp theo một cách phù hơp của một mạch lọc thông thấp với một mạch lọc thông cao. Tương tự ta có thể có tới 2 mạch lọc bandpass để chia nhỏ thêm dải tần hoạt động của mỗi loa nhưng thông thường ta hiếm khi thấy một thùng loa dùng nhiều hơn 4 loa (hoạt động ở 4 dải tần riêng biệt) do độ phức tạp của mạch phân tần đòi hỏi quá nhiều linh kiện. Đồng thời, khi dùng ba loa phụ trách ba dải riêng biệt thì gần như mỗi loa đã đáp ứng tốt dải tần của riêng chúng mà không cần chia nhỏ thêm nữa.
Khi nhắc đến mạch phân tần, ta không thể không nhắc đến tần số cắt. Tần số cắt là tần số, trong trường hợp lý tưởng, phân chia phạm vi hoạt động của hai loa. Loa trung trầm sẽ phụ trách dải tần số dưới tần số cắt, loa treble sẽ đảm trách tín hiệu từ tần số cắt trở lên.
Một khái niệm nữa là bậc của phân tần và độ dốc phân tần. Trong thực tế, hiện nay, việc có được điểm dừng cho loa đúng tại tần số cắt là không thể thực hiện được. Các loa đều phải hoạt động vượt qua ranh giới được quy định bởi tần số cắt. Khi vượt qua ranh giới này, mạch phân tần làm cho âm thanh phát ra từ chiếc loa giảm độ lớn từ từ. Tùy theo bậc phân tần mà tốc độ giảm độ lớn nhanh hay chậm được tính bằng dB/octave. Trong đó 1 octave là một khoảng tần số lớn hơn hoặc nhỏ hơn nhau 2 lần (ví dụ từ 1kHz lên đến 2kHz là 1 octave hay từ 200Hz đến 400Hz là tăng 1 octave còn từ 200Hz đến 100Hz là giảm một octave). Như vậy, giả sử 2 chiếc loa có độ nhạy như nhau là 90dB, tần số cắt là 1kHz và công suất ra loa 1w, ta sẽ có bảng tương quan giữa tần số và độ lớn của âm thanh phát ra từ loa như sau:
Độ dốc Tần số
dB/octave 1kHz 2kHz 4kHz 8kHz
6 90 84 78 72
12 90 78 66 54
18 90 72 54 36
Độ lớn âm thanh của loa bass ở mức tín hiệu 1w/m (dB)
Độ dốc Tần số
dB/octave 1kHz 500Hz 250Hz 125Hz
6 90 84 78 72
12 90 78 66 54
18 90 72 54 36
Độ lớn âm thanh của loa treble ở mức tín hiệu 1w/m (dB)
Như vậy, độ dốc phân tần càng lớn thì loa càng ít phải hoạt động ngoài vùng làm việc được quy định bởi phân tần. Do vậy, nguy cơ méo tiếng được giảm đi đáng kể. Với mạch phân tần bậc 1 thì độ dốc là 6dB/octave, phân tần bậc hai có độ dốc là 12dB/octave, bậc 3 là 18dB/octave và cứ tiếp tục như vậy.
Bây giờ ta bắt đầu xem cách bố trí các linh kiện trong một phân tần là như thế nào. Bắt đầu từ phân tần bậc 1. Phân tần một có cấu tạo rất đơn giản, chỉ gồm có 1 mạch lọc thông thấp và một mạch lọc thông cao. Mạch lọc thông thấp chỉ gồm có một cuộn cảm để loại bỏ tín hiệu tần số cao đi vào loa bass . Trái lại, mạch lọc thông cao chỉ dùng 1 tụ điện để loại bỏ âm thanh tần số thấp vào loa treble.
Mạch phân tần bậc 2 sử dụng nhiều linh kiện hơn so với bậc 1. Với mạch lọc thông thấp, thay vì chỉ sử dụng một cuộn cảm mắc nối tiếp với loa như mạch phân tần bậc một, có thêm một tụ điện mắc song song với loa. cuộn cảm ngăn không cho các tín hiệu ở tần số cao đến loa, nếu vẫn chưa triệt để thì những tín hiệu tần số cao nào lọt qua được cuộn cảm sẽ được dẫn qua tụ xuống đường mass. Tương tự như vậy, mạch lọc thông cao sẽ sử dụng thêm một cuộn cảm mắc song song với loa treble để dẫn những tín hiệu tần số thấp nào vượt qua được tụ điện xuống đường mass.
Và như vậy chắc chúng ta cũng có thể hình dung ra mạch phân tần bậc 3 sẽ có thêm một linh kiện nữa. Với mạch lọc thông thấp sẽ có thêm một cuộn cảm nữa mắc nối tiếp với loa sau cuộn cảm và tụ như trong mạch bậc 2 và như thế tác dụng lọc tần số cao lại được tăng thêm. Với mạch lọc thông cao sẽ có thêm một tụ.
Với mạch phân tần bậc 4 thì thực chất ta có thể hiểu như mắc 2 mạch phân tần bậc 2 chồng lên nhau và tác dụng lọc lại được tăng lên.
Đến lúc này ta đã hiểu được cơ bản phần nào về mạch phân tần thụ động trong một chiếc loa, ta cũng biết được khả năng lọc của chúng có được từ đâu. Hy vọng là sau loạt bài này, chúng ta có thể tự tin hơn trong việc sửa chữa, thay thế linh kiện cho mạch phân tần đang có ở nhà hoặc xa hơn nữa là thiết kế một mạch phân tần cho riêng mình.

Thursday, December 18, 2014

Tìm hiểu về cơ chế hoạt động của Crossover - P.1

Hầu hết các hệ thống loa truyền thống đều có bộ phân tần (crossover) để đảm bảo mỗi củ loa chỉ hoạt động trong khoảng tần số phù hợp mà chúng được thiết kế. Bộ phân tần có chức năng chia đúng tần số cho mỗi củ loa theo yêu cầu thiết kế của củ loa đó.

tim hieu ve co che hoat dong cua crossover
Nắm bắt rõ được nguyên lý hoạt động của Crossover sẽ giúp bạn cải thiện chất lượng âm thanh đáng kể.
Nếu bộ giàn của bạn đã có phân tần chủ động hoặc phân tần bị động lắp sẵn rồi thì đôi khi bạn chẳng để ý đến nó làm gì. Tuy nhiên, việc tìm hiểu cơ chế hoạt động của crossover  cũng có nhiều điều rất lý thú, nó giúp chúng ta nâng cao hiệu năng của hệ thống, đồng thời tránh được những hư hại không đáng có cho bộ dàn. Dưới đây là một số điều bạn nên biết về crossover khi sử dụng chúng trong bộ dàn:

Nguyên tắc phân tách kênh 

Ngoại trừ nhà sản xuất loa Bose, rất nhiều hệ thống loa hiện nay sử dụng các củ loa không đồng nhất về kích thước, dải tần thiết kế nhằm tái tạo đầy đủ các dải âm tần. Ví dụ: hệ thống âm thanh trình diễn (PA: Public Address) đơn giản có thể gồm một củ bass/mid 12-inch hoặc 15-inch và đi kèm một củ treble kiểu kèn.
Những hệ thống âm thanh cỡ lớn hoặc hệ thống có thùng  loa sub riêng biệt có thể chia thành nhiều dải tần, trong đó các loa bass có thể đảm nhiệm dải tần từ 120Hz trở xuống. Điều này giúp cho các củ loa hoạt động đúng với phạm vi dải tần thiết kế. Trong toàn bộ dải âm tần thì năng lượng sóng âm tần số thấp (bass) lớn hơn đáng kể so với sóng âm tần số cao. Ví dụ với một loa sub 1000W thì loa mid chỉ cần khoảng 200-300W và loa treble 50-100W.

Mạch phân tần là một thiết bị trong hệ thống âm thanh, với mục đích chuyển tải đúng dải tần mong muốn tới củ loa tương ứng. Có hai loại mạch phân tần: chủ động và thụ động (lắp trong thùng loa, thường gặp trong các loa hi-fi truyền thống). Phân tần thụ động được lắp giữa loa và ampli, nghĩa là nó có nhiệm vụ chuyển tải toàn bộ năng lượng điện do ampli cung cấp cho các loa. Trong hệ thống loa hai đường tiếng, dải tần được chia thành 2 phần: phần tần số cao sẽ đi vào củ loa treble, phần tần số thấp đi vào củ loa mid/bass. Với hệ thống 3 đường tiếng, hệ thống cũng có 2 củ loa bass và treble như hệ thống 2 đường tiếng nhưng sẽ có thêm một củ loa phụ trách riêng cho phần mid và lúc này, bộ phân tần sẽ chia tín hiệu ra thành 3 dải tần riêng biệt khác nhau.
Phân tần không chỉ cải thiện chất lượng âm thanh của bộ giàn, nó còn có tác dụng bảo vệ củ loa treble khỏi các tần số thấp đi vào. Các củ loa mid và bass hầu như không bị hư hại do tác động của tín hiệu âm thanh tần số cao, tuy nhiên chất lượng tái tạo âm thanh tổng thể thì bị ảnh hưởng rõ rệt vì lúc này củ loa hoạt động với dải âm tần không đúng với thiết kế-chế tạo ban đầu.

Phân tần thụ động (được tích hợp sẵn trong các dòng loa)

Bộ phân tần crossover là một tổ hợp các mạch lọc tín hiệu điện thụ động. Trước hết ta quan niệm một bộ phân tần đơn giản nhất gồm các tụ điện, điện trở và cuộn các cuộn cảm. 
mach phan tan cho loa
Mạch phân tần crossover thường được tích hợp sẵn trong các dòng loa thùng hiện nay
Bộ phân tần thụ động thường lắp bên trong các thùng loa, do đó tất cả những gì người ta phải làm là chọn một ampli thích hợp về công suất, trở kháng… để phối ghép với loa sao cho hợp lý. Với một hệ thống loa 3 đường tiếng, củ loa bass sẽ nhận tín hiệu điện từ mạch lọc tần số thấp (low-pass filter: chỉ cho các tần số thấp hơn điểm cắt đi qua), trong khi đó củ loa treble sẽ nhận các tín hiệu có tần số cao high-pass filter. Mạch lọc phải được thiết kế cẩn thận, chính xác để đạt được sự chuyển giao trơn tru giữa hai loại tín hiệu trên tại điểm cắt tần. Dải tần hoạt động của củ loa trung thì lại nằm ở khoảng giữa cho nên củ loa này đòi hỏi phải có cả hai mạch lọc ở trên để đảm bảo tín hiệu nhận được là ở dải trung. Kiểu kết hợp giữa low-pass filter và high-pass filter thường hay gọi là band-pass filter. Về lý thuyết, hiện chưa có mạch lọc nào có thể cắt tần hoàn hảo theo chiều thẳng đứng, trong khi đó các củ loa khác nhau lại hoạt động chồng lấn ở một số vùng dải tần tiếp giáp, cho nên đòi hỏi cao nhất của bộ phân tần là chuyển giao trơn tru các dải tần cho từng củ loa tương ứng.
Các dạng phân tần thụ động kể trên nhìn chung rất tiện dụng vì người sử dụng không phải can thiệp vào chúng, đáng tin cậy, và trong phần lớn các trường hợp chúng có giá thành khá hợp lý, ít nhất là cho các hệ thống có công suất nhỏ hoặc trung bình. Tuy vậy, khi hoạt động ở công suất lớn, các thành phần của bộ phân tần thụ động trở nên rất cồng kềnh và đắt tiền do chúng phải tải dòng điện thế lớn hơn. Ngoài ra, bản chất của bộ phân tần thụ động làm chúng tiêu phí năng lượng hữu ích. Một phần công suất của amply luôn bị hấp thụ bởi mạch phân tần thụ động thay vì được chuyển toàn bộ đến loa, do vậy, ta cần phải có amply công suất lớn hơn. Ngoài ra, trừ trường hợp các củ loa trong hệ thống nhiều đường tiếng của chúng ta có cùng độ nhạy (điều này hiếm khi đạt được), còn không thì củ loa có độ nhạy cao hơn luôn cần mức tín hiệu nhỏ hơn. Do vậy, để các củ loa khi kết hợp lại có thể tái tạo phẳng được toàn bộ dải tần, nhà thiết kế phải bỏ bớt một cách có chủ ý một phần công suất của amply bằng cách lắp thêm thành phần trở kháng để làm suy hao bớt mức tín hiệu đến củ loa có độ nhạy cao.

Độ dốc phân tần 

Bộ phân tần thụ động không thể đạt được độ dốc đáng kể tại điểm phân chia tần số nếu không làm tiêu phí phần công suất và không sử dụng các linh kiện đắt tiền. Ví dụ: mạch lọc đơn giản chỉ gồm trở và tụ chỉ đạt được độ dốc 6dB/octave, trong khi đó, sự kết hợp giữa tụ và cuộn cảm có thể tạo được độ dốc phân tần là 12dB/octave. Để đạt được độ dốc lớn hơn, nhiều tầng lọc phải được chồng lên nhau dẫn đến sự suy giảm nhiều hơn nữa hiệu suất của năng lượng điện. Chỉ số dB/octave càng cao, đáp ứng của mạch càng có độ dốc cao. Phân tần có độ dốc càng lớn thì các củ loa càng ít hoạt động chồng lấn tại vùng tần số gần tần số cắt, điều mà chúng ta luôn mong muốn. Nguyên nhân là sự chồng lấn quá lớn có thể dẫn đến vấn đề về pha do cả hai củ loa đều cố tái tạo tín hiệu khác nhau đôi chút tại cùng chồng lấn. 
Do hiện nay các amply rẻ hơn nhiều (và thường nhẹ hơn) so với trước đây, công suất của chúng không còn là vấn đề nghiêm trọng như trước, do vậy, các mạch phân tần thụ động có thể rất hiệu quả trong các hệ thống có công suất đến vài kilowatts.

Phân tần chủ động (là thiết bị được sản xuất chuyên phân tần số cho hệ thống loa)

Khác với phân tần thụ động, bộ phân tần chủ động chia tách dải tần trước khi chuyển sang các ampli. Mức tín hiệu dòng điện trong giai đoạn này không lớn nên phân tần chủ động không phải chịu mức năng lượng đáng kể, do vậy không cần các linh kiện lớn, cầu kì. Tuy vậy, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải sử dụng các amply công suất cho mỗi khoảng tần số. Cụ thể, với hệ thống 3 đường tiếng ta cần 3 amply công suất riêng biệt.
thiet bi xu ly tin hieu soundking ap2040
Hiện nay những bộ xử lý tín hiệu âm thanh dạng kỹ thuật số bao gồm các tính năng như crossover, limiter,  canh delay đang dần thay thế dạng analog…
Do mạch phân tần chủ động chỉ làm việc ở mức tín hiệu audio nhỏ, các mạch lọc có thể được xây dựng và sử dụng các mạch điện tử tích cực thông thường tương tự như được sử dụng trong các bộ lọc tần số equalizer, vốn cho phép có được sự linh động hơn rất nhiều trong thiết kế. Và như vậy, thay vì phải tiêu phí năng lượng để chỉnh tín hiệu ra loa theo củ loa có độ nhạy thấp nhất, tín hiệu ra của mạch phân tần chủ động có thể được điều chỉnh để có được sự cân bằng tốt nhất giữa các củ loa. Điều này cho phép các nhà thiết kế lựa chọn củ loa dễ dàng hơn cũng như thiết kế được các mạch lọc có độ dốc cao hơn nên giảm được lượng tín hiệu ngoài giới hạn tần số hoạt động mà từng củ loa thường phải đảm nhận.
Bên cạnh đó, phân tần chủ động giảm nguy cơ gây hư hỏng cho loa treble. Trong trường hợp amply hoạt động ở ngưỡng xảy ra hiện tượng “clipping” – đây là trường hợp tín hiệu ra lớn hơn mức tối đa mà amply kiểm soát được, các sóng âm tần số thấp thông thường trở nên có dạng gần như sóng vuông chứa các các mức cao của các hài âm tần số cao. Sóng âm tần số thấp chứa các hài âm tần số cao này sẽ vượt qua mạch phân tần và đến loa treble tương tự như các tín hiệu tần số cao khác. Nếu có đủ năng lượng cao hoặc đủ thời gian, chúng có thể gây nóng cho cuộn dây của loa treble và gây cháy chúng.
Với bộ phân tần chủ động, do nằm trước amply nên các phần quá tải của phần bass sẽ vẫn được đưa sang amply của loa bass và đến loa bass. Loa mid và loa treble vẫn nhận được tín hiệu “sạch” từ các amply của chúng.

Loa siêu trầm trong các hệ thống âm thanh loại nhỏ 

Khi các thùng loa mid/treble được tăng cường bởi các thùng loa sub riêng (loa siêu trầm) thì các thùng bass này thường có sẵn mạch phân tần để đưa các tín hiệu có tần số cao hơn một mức nhất định (ví dụ 120Hz) đến loa chính còn phần thấp hơn đến phần amply của loa sub. Mạch phân tần trong loa chính sẽ chia tín hiệu cho củ loa bass/mid và củ loa treble. Thông thường, ta không cần điều chỉnh đáp ứng tần số ở dải trầm cho loa chính vì mạch phân tần trong loa siêu trầm đã làm việc này. Một lợi điểm phụ là chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc điều khiển phần trung âm còn lại. Tuy vậy, không phải loa siêu trầm nào cũng có mạch lọc cho loa chính, một số chỉ đơn thuần cho tín hiệu đi qua mà không lọc, trong trường hợp này, loa chính thường được trang bị mạch cắt âm ở tần số thấp.
Do nhiều loa siêu trầm được thiết kế để dùng đơn lẻ, do vậy tín hiệu cho chúng thường được tổng hợp thành mono, tuy vậy, tín hiệu được cho qua để đến loa chính vẫn được giữ nguyên ở dạng stereo. Đồng thời, loa siêu trầm cũng thường có phần chỉnh âm lượng cho riêng chúng để đảm bảo phần âm thanh trầm được cân bằng với toàn bộ dải âm còn lại. Điều này là cần thiết do lượng tiếng bass phụ thuộc vào tính chất âm học của phòng nghe và vào vị trí đặt loa siêu trầm. Việc sử dụng phân tần thụ động tích hợp trong loa siêu trầm hoặc dùng phân tần thụ động với amply công suất riêng biệt cho loa siêu trầm đều có thể đạt được cùng một hiệu quả như nhau. Nhìn chung, với các hệ thống nhỏ và trung bình thì phương pháp tích hợp phân tần thụ động vào loa là tiện lợi nhất cho dù ta phải cấp nguồn riêng biệt cho từng thùng loa.

Bảo vệ củ loa

Do loa có những giới hạn cả về cơ khí cũng như về nhiệt độ mà nếu bị vượt qua sẽ làm hỏng loa nên cần có những cơ cấu bảo vệ. Với hệ thống dùng phân tần thụ động, có thể dùng một số mẹo đơn giản như: mắc một bóng đèn điện thế thấp nối tiếp với loa treble (loa dễ hư hỏng nhất), khi đó, tín hiệu quá lớn sẽ đốt nóng dây tóc của bóng đèn và làm trở kháng của nó tăng lên, kết quả làm giảm lượng tín hiệu cấp vào loa treble. Tuy vậy, với hệ thống dùng phân tần chủ động, ta có thể dễ dàng thiết kế bộ phận giới hạn âm lượng để ngăn không cho amply phải hoạt động ở chế độ “clipping”. Các loa chủ động này vốn gồm mọi thứ được tích hợp trong thùng loa (có thể được lắp thêm các thiết bị theo dõi nhiệt độ ở amply và khi nhiệt độ tăng đến giới hạn nguy hiểm do quá tải, chúng sẽ giảm công suất hoặc tắt amply để bảo vệ hệ thống).
Hầu hết các hệ thống không đòi hỏi chúng ta phải biết chúng sử dụng loại phân tần nào, nhưng chúng ta sẽ có thể sử dụng chúng một cách hiệu quả hơn nếu chúng ta hiểu được sự khác nhau giữa hệ thống thụ động và chủ động đặc biệt là về vấn đề bảo vệ các củ loa. Chúc các bạn luôn thành công!

Thursday, December 4, 2014

Phân biệt giữa âm thanh Mono và âm thanh Stereo

Trên những loại headphone mà chúng ta thường sử dụng hay có kí hiệu Stereo, hoặc trong các dàn âm thanh cũng ghi âm thanh Stereo, các loại jack tín hiệu cũng phân biệt giữa jack tín hiệu mono và jack tín hiệu Stereo. Vậy những kí hiệu này là như thế nào? Âm thanh mono và âm thanh stereo là gì? Có khác nhau hay không? Bài viết Phân biệt giữa âm thanh Mono và âm thanh Stereo sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc này. 

Chắc hẳn bạn đã từng nghe những kỹ thuật viên âm thanh đề cập đến việc loa trong dàn âm thanh chơi theo dạng mono hay stereo. Rồi những ai chơi đàn organ, keyboard sẽ thấy đằng sau cây đàn, nơi cổng kết nối ra dàn âm thanh thường sẽ có hai cổng L (Left) và R (Right), có người thì dùng một sợi dây tín hiệu 2 đầu kết nối vào dàn âm thanh, có người chỉ kết nối 1 cổng L hoặc R. Sự khác nhau đó cũng liên quan đến âm thanh mono và âm thanh stereo. Mình sẽ giúp các bạn phân biệt điều này sau đây.
phan biet giua am thanh mono va stereo
Hướng nghe của âm thanh Stereo

1. Âm thanh Mono (Monophonic)


Âm thanh Mono hay còn gọi là âm thanh đơn kênh (1 kênh), xuất phát từ một hướng. Người nghe khi nghe các dàn âm thanh mono thường sẽ cảm nhận được âm thanh mình đang nghe được đều được phát ra từ một điểm trong không gian. Dàn âm thanh chơi kiểu mono nếu gồm 2 loa (hay 2 cột loa với nhiều loa chồng lên nhau) thì âm thanh giống như được phát ra từ một điểm ở chính giữa 2 loa/cột loa.

Nói dài dòng như vậy, nhưng đúc kết lại thì âm thanh Mono nghĩa là âm thanh được phát ra từ một nguồn âm thanh duy nhất ở một điểm cố định.
                                              tin hieu am thanh mono
Tín hiệu âm thanh Mono

Một số ví dụ về âm thanh Mono để các bạn dễ hiểu như:

+ Âm thanh phát ra từ một người đang đứng nói chuyện trước mặt bạn

+ Một chú chim đứng yên hót trên cây.

Phức tạp hơn một chút khi bạn sở hữu một dàn âm thanh bao gồm nhiều nguồn phát, nhưng những nguồn phát này cũng giống hệt nhau thì âm thanh cũng là âm thanh Mono. Ví dụ như bạn sở hữu một dàn âm thanh "hoành tráng" với 4 loa 2 trái 2 phải, người cầm micro nói vào đó và 4 loa này phát ra âm thanh như nhau, thì đó cũng là âm thanh Mono, dù cho dàn âm thanh bạn sở hữu được nhà sản xuất ghi rõ là Stereo. Vấn đề nằm ở chỗ bạn đấu nối như thế nào để chia tách dàn âm thanh thành 2 kênh riêng biệt.

2. Âm thanh Stereo

Âm thanh Stereo là âm thanh phát ra từ nhiều nguồn âm khác nhau, được phân bổ theo một hướng nhất định như từ trái qua phải hoặc ngược lại, tùy theo sự điều chỉnh của người kỹ thuật viên. Hãy tưởng tượng bạn đang đứng giữa một cái chợ với nhiều người bán hàng xung quanh cùng lúc mời mọc bạn với những câu "quảng cáo" khác nhau. Hoặc chú chim ở ví dụ ban nãy không đứng im hót nữa mà bay từ trái sang phải bạn, vừa bay vừa hót. Đó là những ví dụ rất cụ thể về âm thanh Stereo.

Và trong một dàn thiết bị am âm thanh, khi bạn có 1 cặp loa hoặc nhiều hơn, chia làm 2 cột xếp 2 bên, kỹ thuật viên đã chỉnh sẵn dàn âm thanh theo dạng stereo với âm thanh được phân bổ từ cột loa trái sang cột loa phải, thì đó chính là âm thanh stereo.

tin hieu am thanh stereo


Tín hiệu âm thanh Stereo

Nếu bạn là một người hay nghe nhạc thì sẽ rất dễ dàng nhận ra được sự khác nhau giữa loại tai nghe phát âm thanh Mono và tai nghe phát âm thanh Stereo. Và đương nhiên với một chiếc tai nghe hay là một dàn âm thanh với 2 cột loa, mỗi bên phát ra một âm thanh khác nhau (stereo) sẽ mang lại âm thanh đa dạng, hay hơn so với dạng âm thanh mà cả 2 cột loa cùng phát ra chung một tín hiệu âm thanh (mono).

Tùy thuộc vào cách setup, chia kênh của kỹ thuật viên mà dàn âm thanh của bạn sẽ chơi theo dạng mono hay stereo. Và trên cái loại mixer thường có nút PAN, nếu vận hành tốt thì âm thanh bộ dàn của bạn sẽ phân bổ một cách đều, hợp lý nhất, nghe rất hay.

Saturday, October 18, 2014

Dây loa có quan trọng với dàn karaoke gia đình không?

Nhiều người khi chọn mua các dàn karaoke gia đình thường sẽ có xu hướng chú ý nhiều đến loa, amply hoặc sẽ là micro để đạt chất lượng âm thanh cao nhất có thể. Và họ cho rằng đó là những thiết bị quan trọng, còn các loại dây dẫn, đặc biệt là dây loa thì chỉ là thứ yếu. Chính tư tưởng này khiến cho đôi lúc việc chọn mua dây loa chỉ là cho có, làm sao để loa có thể kêu là được, chứ không hề quan tâm đến chất lượng của dây. Bài viết này mình sẽ đề cập đến các bạn về vai trò của dây loa trong dàn karaoke gia đình.

Như các bạn đã biết, để hình thành một dàn karaoke gia đình, thì amply karaoke và cặp loa được xem là các yếu tố quan trọng hơn cả. Chính vì thế mà các thiết bị này luôn được đặt ưu tiên lên hàng đầu so với các dây loa và các sản phẩm khác như micro, đầu đĩa... Nhưng đã bao giờ các bạn thắc mắc rằng dây loa có ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh karaoke của mình hay không? Hoặc dàn karaoke ở nhà dù đã đầu tư rất nhiều nhưng hát vẫn chưa "đã" như các phòng karaoke bên ngoài mà chúng ta thường lưu tới?

Vấn đề sai lầm khi chọn mua dây loa

day loa co quan trong voi dan karaoke gia dinh khong
Dây loa rẻ chỉ có thể giúp loa "kêu cho có"
Như mình đã nói ở trên. Các bạn đầu tư rất nhiều vào amply, loa, thậm chí là micro với hy vọng rằng dàn karaoke tại nhà sẽ hay hơn những nơi bên ngoài mình từng hát, vì thực tế các thiết bị tại nhà mình có giá trị hơn nhiều so với các thiết bị tại những nơi đó. Tuy nhiên bạn lại quên rằng khi chọn mua dây loa, bạn lại chọn dây loa có chất lượng quá thấp, vì nghĩ nó sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến âm thanh của loa.
Hiện nay trên thị trường, có những loại dây loa chỉ tầm 5.000-6.000đ/ mét. Thực chất thì đây chỉ là những loại dây loa được làm dành cho những công trình công cộng, để loa có thể "kêu cho có", phát ra tiếng và nghe được, thế là đủ rồi. Còn đối với dàn karaoke tại nhà, cặp loa và amply chúng ta đầu tư lên đến cả 20-30 triệu đồng, sử dụng loại dây loa này chẳng khác nào đang xem các thiết bị này cũng chỉ "kêu cho có" như các thiết bị trên? Âm thanh sẽ thiếu đi rất nhiều khi các bạn dùng những loại dây loa kể trên.
 

Vậy phải mua dây loa như thế nào mới phù hợp?

Nên căn cứ vào những thiết bị hiện có của bạn, cũng như nhu cầu sử dụng các thiết bị đó để có thể chọn dây loa tương xứng. Bạn sở hữu một bộ dàn karaoke xịn, với mức đầu tư gấp đôi so với các phòng karaoke nổi tiếng trên thị trường hiện nay. Vậy thì đừng nên đắn đo mà hãy chọn mua loa dây loa có chất lượng tốt để đảm bảo bộ dàn của bạn phát huy được giá trị tốt nhất.
day cap loa soundking gb112
Dây cáp loa Soundking GB112 vói 4 lõi bên trong giúp tăng hiệu quả truyền tín hiệu âm thanh
Ngược lại nếu như chỉ sở hữu amply và loa mỗi sản phẩm chỉ tầm 2-3 triệu, thì có lẽ các loại dây loa ở mức trung bình là đã phù hợp rồi. Mức giá phổ biến cho các loại dây loa hiện nay dao động từ 10.000 - 120.000đ trên mỗi mét dây, bạn hãy tìm và lựa chọn  cho mình một loại dây loa phù hợp với các thiết bị và nhu cầu sử dụng.

Công dụng mà dây loa mang lại

Sở dĩ các loại dây loa này có sự chênh lệch giá như vậy đó là do kết cấu thiết kế của mỗi loại sản phẩm, cũng như sự nổi tiếng của thương hiệu sản xuất nên các sản phẩm. Các loại dây loa giá rẻ thường sẽ sử dụng chất liệu lõi dây tương đối thấp, cũng là đồng nhưng đã bị pha các tạp chất làm giảm độ tinh khiết của nó đi rồi. Còn đối với các loại dây loa chất lượng hơn, thì độ tinh khiết của lõi dây sẽ cao, hoặc có thể mạ thêm một lớp bạc để tăng tính dẫn cho dây.
Vỏ dây cũng là một yếu tố quan trọng. Vỏ bọc tốt sẽ giúp tránh sự nhiễu tín hiệu khi dây loa hoạt động, đảm bảo dẫn trọn vẹn, không suy hao khi tín hiệu âm thanh truyền qua. Ngoài ra thì nó còn góp phần bảo vệ tốt cho lõi dây bên trong, mang lại hiệu quả sử dụng lâu dài.
Hy vọng một chút chia sẻ bên trên, với tính thực tế cao hơn, sẽ mang lại những kinh nghiệm thực tế cho các bạn, hỗ trợ trong quá trình tìm hiểu và phần nào đó nâng cấp cho dàn karaoke đang có để đạt chất lượng tốt hơn. Minh Thanh Piano cũng phân phối một số sản phẩm dây loa Soundking phù hợp cho nhu cầu karaoke cũng như các công trình, dàn âm thanh chất lượng, có thể tham khảo qua.

Tuesday, October 7, 2014

Một dàn âm thanh cho gia đình, phục vụ các nhu cầu giải trí như nghe nhạc, hát karaoke, hoặc xem phim... luôn là một công cụ giúp các thành viên gắn bó với nhau hơn. Tuy nhiên vì một lí do nào đó mà dù đã đầu tư khá nhiều tiền bạc vào dàn âm thanh của gia đình mình, mà chất lượng âm thanh mang lại vẫn chưa đạt yêu cầu. Bài viết này với 6 bước giúp các bạn cải thiện chất lượng hệ thống âm thanh gia đình.

Bất kì một gia đình nào khi đã đầu tư chi phí để sở hữu một dàn âm thanh cho riêng mình thì cũng đều mong muốn rằng dàn âm thanh này sẽ mang lại chất lượng âm thanh hay nhất có thể, xứng đáng với chi phí đầu tư. Tuy nhiên vì lí do này hay lí do khác, dàn âm thanh lại không đáp ứng được yêu cầu như mong muốn của người sở hữu. Hãy thử kiểm tra lại các bước sau đây, có thể sẽ giúp các bạn cải thiện được chất lượng âm thanh cho bộ dàn gia đình mình.

1. Vị trí đặt loa

Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng mà mình đã từng đề cập với các bạn trong bài viết Vị trí đặt loa hợp lí. Đặc biệt đối với các gia đình sử dụng hệ thống âm thanh 5.1, bao gồm 5 loa, nếu không có những vị trí tốt nhất cho các loa này thì rất có thể nó sẽ làm cho âm thanh của không gian phòng trở nên mất cân đối vì bị chồng chéo âm thanh.
so do minh hoa vi tri dat loa
Vị trí đặt loa là một vấn đề khá quan trọng
Cách tốt nhất trong trường hợp này đó là hãy sử dụng những hướng dẫn có sẵn của nhà sản xuất, gợi ý về vị trí đặt loa sao cho phù hợp nhất. Hoặc cũng có thể nhờ một ai đó có khả năng nghe tương đối tốt, ngồi và nhận xét về âm thanh trong khi bạn thay đổi các vị trí loa. Một dàn âm thanh có thể rất chất lượng theo lời nhận xét của nhiều người, có giá trị rất cao, nhưng đặt loa sai vị trí cũng sẽ chẳng mang lại hiệu quả âm thanh tốt nhất được. Hãy chú ý kĩ đến vị trí đặt loa.

2. Loa đặt trên chân đế hay đặt dưới đất

Đây cũng là câu hỏi rất khó trả lời, thường gặp nếu chúng ta chưa trải nghiệm cả 2 vị trí đặt loa này. Một điều cần lưu ý ở đây là những gì xung quanh loa có thể ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh. Đặt loa trên tủ sách có thể khiến âm thanh vang kiểu như bạn phát âm khi đặt úp tay trên miệng. Đặt các loa gần nhau ở phía trên TV có thể làm giảm chất lượng âm thanh stereo. Dịch chuyển các loa gần tường có thể giúp tăng âm bass, điều này có tốt hay không phụ thuộc vào từng trường hợp. Có thể sẽ tốn một chút thời gian để bạn có thể kiểm nghiệm được âm thanh phát ra từ loa ở mỗi vị trí, trong từng trường hợp cụ thể. Nhưng hãy kiên nhẫn nếu bạn muốn sở hữu chất lượng âm thanh tốt nhất có thể.

3. Chú ý đến loa siêu trầm

Cũng liên quan đến loa siêu trầm, các bạn có thể tham khảo qua bài viết: Vị trí loa sub trong dàn âm thanh. Việc đặt loa sub thường liên quan đến yếu tố thẩm mỹ, vì đây là loại loa có kích thước tương đối lớn hơn so với các loa bình thường. Đặt loa sub gần tường sẽ tạo ra “hiệu ứng biên” giúp nâng cao âm thanh ở một số dải tần nhất định. Đặt loa sub gần góc tường thậm chí sẽ tạo ra một hiệu ứng lớn hơn. Vì vậy, đơn giản là càng đặt loa sub gần tường, bạn càng có được âm thanh lớn.
6 buoc cai thien chat luong he thong am thanh gia dinh
Hãy thử nhiều vị trí nghe khác nhau để nghe thử chất âm loa sub
Nếu bạn đặt loa subwoofer phía dưới ghế ngồi hoặc trong một không gian kín (trong một tủ hẹp), âm thanh của nó sẽ bị giảm đáng kể. Chính vì vậy, đặt loa sub trong một tủ mở hay trên giá sẽ tốt hơn, tạo ra hiệu ứng tương tự như đặt chúng ở một góc tường.

4. Kết nối giữa các thiết bị trong dàn

Đây cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Theo thời gian các loại dây tín hiệu, dây loa trong hệ thống âm thanh của bạn cũng sẽ gặp vấn đề vì nhiều yếu tố. Hãy kiểm tra kĩ lại từng dây nối một, xem có dây nào bị trục trặc ở lõi dây hay đầu jack cắm hay không. Vì đây là yếu tố tương đối nhỏ nên nhiều người thường không quan tâm, dẫn đến việc dàn âm thanh không thể phát huy hết khả năng của nó. Một chú ý nho nhỏ nhưng rất thường gặp đó là do các dàn âm thanh, mà mình cũng từng nhắc với các bạn rất nhiều lần. Đó là đôi lúc phối ghép từ nhiều thiết bị sẵn có, ampli không đủ cung cấp công suất cho loa, loa không thể phát huy hết giá trị. Hãy kiểm tra chắc chắn sự tương thích giữa các thiết bị trong dàn âm thanh.

5.Tùy chỉnh các thiết bị âm thanh liên quan

Đây là yếu tố liên quan đến kỹ thuật tương đối nhiều. Hiểu về các thiết bị âm thanh cũng như vai trò của nó sẽ giúp bạn có thêm lựa chọn cho các giải pháp âm thanh khác nhau. Một dàn âm thanh chất lượng nhưng người sở hữu không có khả năng chỉnh cũng sẽ không thể nào đáp ứng chất lượng âm thanh yêu cầu.
dieu chinh chat luong he thong am thanh
Kỹ thuật điều chỉnh âm thanh khá quan trọng
Một giải pháp trong trường hợp này đó là hãy tự tìm hiểu về các thiết bị âm thanh và chức năng của nó, tập chỉnh và sẽ có những thiết bị, phần mềm giúp bạn kiểm tra được chất lượng âm thanh. Còn nếu không hãy nhờ một người quen đến điều chỉnh mẫu, sau đó có thể học tập và rút kinh nghiệm.

6. Điều chỉnh không gian phòng

Cuối cùng sau khi đã kiểm tra kĩ lưỡng các bước trên, hãy sắp xếp lại không gian phòng của bạn. Nhiều người thường thắc mắc và cho rằng đây là một yếu tố không liên quan đến chất lượng âm thanh. Nhưng thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Nếu căn phòng của bạn sử dụng các bức tường rỗng, điều này không tốt cho việc trình diễn âm thanh. Để khắc phục, bạn có thể kê các tủ sách lớn vào các bức tường. Đối với các cánh cửa trượt bằng kính cũng vậy, bạn nên kê các tủ sách vào trước vị trí trước các cánh cửa hoặc sử dụng các màn che. Các màn che có tác dụng hấp thu âm thanh, làm giảm hiệu ứng dội âm. Các màn che hoặc giá sách trên các bức tường cứng phía sau cũng có tác dụng tương tự. Sàn gỗ cứng cũng là một tác nhân ảnh hưởng. Cách cải thiện trong trường hợp này sẽ là trải một tấm thảm thô ráp giữa loa và vị trí của người nghe. Sau khi đã kiểm tra xong hết 6 bước trên, bạn hãy thử ngồi nghe lại chất lượng của hệ thống âm thanh gia đình mình, rất có thể bạn sẽ phải bất ngờ vì sự thay đổi tích cực của bộ dàn. Chúc các bạn sẽ có thêm những phương pháp giúp cải thiện cho chất lượng âm thanh của hệ thống gia đình mình. Mọi thắc mắc có thể liên hệ hotline: 0937.403.689 để được giải đáp miễn phí.

Friday, October 3, 2014

Những nguyên nhân gây cháy loa mà bạn cần biết

Loa là một trong những thiết bị có vai trò quan trọng nhất của dàn âm thanh, với nhiệm vụ nhận những tín hiệu điện từ ampli để chuyển thành sóng âm, phát ra cho người nghe. Tuy nhiên thì vì vô ý hay chưa biết rõ về thiết bị này nên đã xảy ra rất nhiều trường hợp gây cháy loa, gây tổn thất về tài sản lẫn sức khỏe cho người dùng. Chính vì thế bài viết này mình sẽ gửi đến các bạn những nguyên nhân có thể gây cháy loa mà bạn cần biết, để có thể vận hành thiết bị này một cách tốt nhất.

1. Micro của bạn hay bị hú:
Yếu tố gây cháy loa đầu tiên đó chính là tiếng hú phát ra từ micro. Nếu bạn không có một kiến thức nhất định về cân chỉnh âm thanh thì rất dễ gặp phải hiện tượng này. Khi có tiếng hú xảy ra, thì lúc đó dàn loa của bạn đang bị "tổn thương". Tiếng hú càng nhiều, càng lớn thì loa của bạn càng dễ bị hư.
2. Cách chia Crossover không đúng:
Việc điều chỉnh Crossover cũng khá quan trọng,  nếu  tần số  của treble, mid quá thấp hoặc amlpi của bạn phải tải loa treble quá lớn thì cũng rất dễ gây cháy loa, bạn phải luôn kiểm tra các thông số kỹ thuật của loa trước khi bạn muốn chia crossover.
3. Nhu cầu của bạn vượt quá sự đáp ứng của hệ thống loa:
Bạn phải đảm bảo hệ thống loa phải đủ công suất để đáp ứng nhu cầu âm thanh của bạn. Nếu bạn chỉ có 2 cặp loa mà bạn muốn phục vụ vài nghìn người thì đó là điều không thể, hoặc để cho ampli của bạn phải tải rất nhiều loa. Như vậy, nó sẽ dễ dàng làm cháy tất cả các loa của bạn!
4. EQ bị lạm dụng quá mức:
equalizer
Một số người hay để EQ hình chữ V, việc này không phải là giải pháp tối ưu nhất. Khi bạn tăng treble và bass, nhưng vẫn giảm mid thì hệ thống loa của bạn sẽ bị quá tải ở phần mid, nhưng thực tế lại không đủ âm lượng bạn cần. Thường thì mục đích của EQ là để cắt những gì dư, chứ không phải tăng những gì thiếu. Ví dụ nếu bạn muốn nghe tiếng treble nhiều hơn thì các bạn hãy giảm bass đi và ngược lại.
5. Compressors/Limiters được sử dụng không chính xác:
Mặc dù Compressors/Limiters dùng để bảo vệ loa của bạn nhưng nếu bạn sử dụng không đúng chức năng thì nó cũng có thể gây hại tới loa của bạn.
6. Thiếu Headroom:
Không đủ khoảng công suất dự trữ cần thiết trong một ampli. Nếu một cái ampli phải kéo quá nhiều loa hoặc luôn luôn bị quá tải (do bạn thích xài quá công suất chịu đựng của ampli). Đây cũng là một lưu ý quan trọng bạn cần phải khắc phục ngay nếu muốn dàn loa của bạn sử dụng được lâu dài.
7. Bạn để tiếng nổ lớn xảy ra đột ngột:
Chúng ta phải luôn tuân thủ theo nguyên tắc vận hành của hệ thống là khi mở thì mở từ trên xuống dưới. Còn khi tắt thì tắt từ dưới lên trên. Có nghĩa khi mở, bạn hãy mở ampli cuối cùng. Còn khi tắt, bạn hãy tắt ampli đầu tiên. Các bạn đặc biệt phải tránh tình trạng rút giắc, chạm dây, rớt mic... gây ra tiếng động lớn trong khi hệ thống âm thanh đang hoạt động. Đây là một trong những điều dễ làm hại loa của bạn nhất.
8. Tín hiệu trên Mixer và các bộ effect,  EQ bị quá tải trước khi xuống Ampli:
Cách khắc phục là chỉnh Gain ở mức độ vừa phải.
9. Tiếp tục sử dụng loa khi chúng đang bị tổn thương:
Nếu bạn nghe tiếng rè hay âm thanh không tốt, lúc nhỏ lúc to thì hãy ngưng sử dụng, kiểm tra lại và khắc phục chúng.
Chúc các bạn sẽ có thêm những kiến thức để vận hành tốt nhất loa của mình. Mọi thắc mắc có thể liên hệ Hotline: 0937.403.689 để được giải đáp miễn phí.

Tuesday, September 30, 2014

Cách điều chỉnh Equalizer

Equalizer luôn được xem là thành phần quan trọng để cấu thành nên một hệ thống âm thanh. Tuy nhiên thì đây cũng chính là thiết bị có phần khó điều chỉnh nhất trong một bộ dàn. Chính vì thế bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu hơn và thiết bị này cũng như cách điều chỉnh equalizer hiệu quả.

Một hệ thống âm thanh hoàn chỉnh thì chắc chắn không thể nào thiếu những thiết bị góp phần kiểm soát tín hiệu âm thanh, và Equalizer là một trong những thiết bị đó. Hay nói một cách rõ ràng hơn thì equalizer sẽ làm thay đổi tính chất của âm thanh khi âm thanh đi qua thiết bị này. Trước khi tìm cách điều chỉnh Equalizer cho hay, thì chúng ta cần phải biết chức năng của thiết bị này trong dàn âm thanh. Có 4 chức năng chính mà Equalizer đảm nhiệm:

1. Cân bằng tần số âm thanh (tần số nào thừa thì cắt bớt, thiếu thì thêm vào)

2. Điều chỉnh dàn âm thanh cho phù hợp (bị vang, mất tiếng bass hoặc dư tiếng treble)

3. Tùy chỉnh âm thanh cho hợp với thể loại nhạc (bass nhiều cho thể loại nhạc rock...)

4. Cắt hú (nếu có)

Một sản phẩm Equalizer thông dụng hiện nay thường sẽ bao gồm 2 kênh, với 31 cần điều chỉnh cho mỗi kênh (người ta thường ký hiệu: 2x31), có thể điều chỉnh cho mọi dải tần nghe được từ 20 - 20KHz. Trước đây người ta thường sử dụng các loại Graphic Equalizer, còn hiện nay công nghệ phát triển sẽ có những loại Digital Equalizer, sử dụng và điều chỉnh với tín hiệu số, có thể giao tiếp với máy tính. Vì giới hạn của bài viết cũng như tính chất phổ biến nên mình chỉ giới thiệu với các bạn về Graphic Equalizer. Sau đây là một số tính năng phụ của thiết bị này:

equalizer soundking seq3103


- Input, Output: Chúng ta sẽ đặt mức 0 dB làm chuẩn cho các thiết bị âm thanh khi giao tiếp với nhau trong dàn âm thanh. Khi thiết bị trước EQ out ra ở mức 0 dB thì bạn cũng phải chỉnh input level sao cho đèn VU metter cũng ở mức 0 dB. Ở mục Output level cũng là 0 dB. Cách điều chỉnh này nghĩa là đã set thiết bị EQ không khuếch đại (in=out).
- By pass: Khi bạn nhấn nút này nghĩa là bạn không xử dụng những sự điều chỉnh đã làm nữa. Nó sẽ nối mạch giữa input và output không đi qua tầng effect.
- Lo-cut, Hi-cut: Đây là một khái niệm rất quen thuộc khi tiếp xúc với EQ. Nghĩa là ở chế độ này, EQ sẽ "cắt bỏ" những tần số bạn không mong muốn. Ví dụ như Lo-cut là sẽ lọc hết những tần số thấp, từ 20 - 25Hz trở xuống. Còn ở chế độ Hi-cut, thiết bị này sẽ lọc bỏ những âm thanh từ 18KHz trở lên. Nếu dàn âm thanh của bạn không sở hữu những loại loa phát tần số cực cao (loa super high) thì có thể cắt luôn những tần số từ 15 - 16KHz, vì có để lại cũng rất khó nghe, và cũng tiêu tốn công suất của ampli cho dải tần này.
- Range: Nút này có tác dụng làm thay đổi biên độ effect, từ ±12 dB sang ±15 dB. Nếu thời điểm bạn cần tấn công mạnh vào âm sắc thì có thể sử dụng ±15 dB, còn bình thường set ở ±12 dB là đạt yêu cầu.

Sau khi đã hiểu rõ về các tính năng phụ trên, chúng ta sẽ bắt đầu quan tâm đến vấn đề chính khi điều chỉnh EQ đó là cách chỉnh 31 cần gạt có trên thiết bị này. Trước hay chúng ta cần phải điều chỉnh cho 31 cần gạt này nằm ở mức cân bằng, 0 dB. Sau đó hãy khởi động các thiết bị của dàn âm thanh. Nếu được hãy sử dụng những bản nhạc mà bạn đã nghe quen thuộc, vì như thế sẽ giúp cho bạn có thể cảm nhận âm thanh và điều chỉnh một cách tốt nhất. Sẽ tốt hơn khi sử dụng những bản nhạc được kết hợp từ nhiều loại nhạc cụ, như vậy sẽ có thêm nhiều dải tần cần phải xử lý hơn.

Một điều kiện cần nữa để bạn có thể điều chỉnh tốt EQ đó là cần phải có một lỗ tai nghe thật tốt, vì bất cứ ai khi làm về lĩnh vực âm thanh thì việc nghe tốt được xem là yếu tố không thể thiếu. Để đạt được điều này thì cần phải qua một quá trình tập luyện, ngắn hay dài tùy theo năng khiếu của bạn. Một cách tập luyện thông dụng cho những ai không có một dàn âm thanh tốt để nghe đó là hãy sắm cho mình một headphone cao cấp (chất lượng phải tương đối chuẩn), sau đó tập luyện nghe trên các dĩa CD chưa qua chỉnh sửa âm sắc, vì các sản phẩm này khi ra khỏi phòng thu thì đã được chỉnh âm thanh một cách hay nhất có thể rồi. Hãy nghe thật nhuần nhuyễn trước khi tiếp xúc và điều chỉnh dàn thiết bị âm thanh của mình.

Sau khi đã luyện tập tốt khả năng nghe của mình, lúc này hãy điều chỉnh sao cho loa phát ra âm thanh giống với âm thanh bạn đã nghe được từ headphone. Chậm rãi điều chỉnh từng cần gạt một, sao cho âm thanh đúng với ngưỡng bạn nghe được từ headphone nhất. Cần gạt nào chưa thể điều chỉnh tốt nhất thì có thể bỏ qua, sau khi hết một vòng có thể quay lại kiểm tra kĩ hơn.

Lúc đã hoàn thành xong việc điều chỉnh cho cả 31 cần gạt trên EQ, hãy nhìn tổng thể lại xem 31 cần gạt bạn vừa điều chỉnh trên EQ đã có "hình hài" như thế nào. Thông thường thì nó sẽ có hình như một cánh chim.

cach dieu chinh equalizer

Sơ đồ minh họa của một Equalizer 

Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở mức như vậy nghĩa là bạn đã lãng phí rất nhiều tính năng trên thiết bị này. Như đã nói ở trên, EQ là một thiết bị giúp bạn bù đắp hoặc loại bỏ những tần số âm thanh cho bộ dàn của bạn. Ampli không phải lúc nào cũng có thể khuếch đại một cách hoàn hảo các dải tần số, chính vì thế sẽ có chỗ dư, chỗ thiếu. Bạn hãy nghe rõ từng khuyết điểm khác biệt, mò dần từng band tới chỗ tần số đó nâng hay cắt thật dứt khoát. Với các loại EQ 31 cần gạt thì bạn có thể thoải mái điều chỉnh một vài cần gạt lên mức ±15 dB cũng vẫn không ảnh hưởng gì đến bài nhạc đang phát. Với cách điều chỉnh như thế thì bạn sẽ được một chất âm tương đối sạch hơn, trong trẻo hơn so với việc chỉ dừng ở mức như trên.
Và lúc này hãy check lại những thao tác bạn vừa làm bằng cách nhấn bypass, so sánh thử với lúc đầu tiên có hay hơn không (đôi lúc sẽ gặp phải trường hợp âm thanh dở hơn). Nhưng hãy cứ kiên trì và điều chỉnh, bạn sẽ có thêm được kinh nghiệm trong việc xử lý âm thanh.

Đó là những vấn đề liên quan đến Equalizer và cách điều chỉnh cơ bản cho những ai mới bắt đầu tìm hiểu về thiết bị này. Để được tư vấn kĩ lưỡng hơn, hãy liên lạc hotline: 0937.403.689.

Thursday, September 18, 2014

Nâng cấp thùng loa - P.1

Sau một thời gian sử dụng, cặp loa trong bộ dàn của bạn đã không còn chất lượng như xưa, âm thanh có phần "xuống cấp" cũng như bạn yêu cầu phải có chất lượng âm thanh cao hơn. Bài viết nâng cấp thùng loa có thể sẽ giúp ích cho bạn, để có thể cải thiện tình trạng của cặp loa hiện có, đơn giản và có thể tiết kiệm chi phí nhất. 

Do các yếu tố về thị trường, sự cạnh tranh cũng như mức giá mà khách hàng mong muốn, các nhà sản xuất thường phải cố gắng làm sao để vừa hài lòng khách hàng, mà vừa có thể thu lợi nhuận cho công việc kinh doanh. Chính vì điều này dẫn đến việc nhiều người mua phải những loại loa có vẻ bề ngoài rất sang trọng, hiện đại nhưng "phụ tùng" bên trong thì ngược lại hoàn toàn. Tuy nhiên bạn vẫn có thể sửa sai bằng cách nâng cấp các phụ kiện bên trong để đạt được chất lượng âm thanh mong muốn. 

1. Chú ý khi tháo loa khỏi thùng

nang cap thung loa
Cẩn thận khi lấy loa ra khỏi thùng, tránh trầy xước
 Điều đầu tiên trước khi tiến hành tháo loa khỏi thùng đó là cần tìm hiểu xem bên trong loa của bạn có những gì, để có thể lựa chọn tháo từng bộ phận một cách phù hợp nhất. Loa con hay còn gọi là driver thường được bắt ốc vào phần ván gỗ phía trước. Hãy xác định xem loại ốc được bắt trên loa của bạn, để chọn dụng cụ mở phù hợp. Thông thường thiết bị mở sẽ là các loại khóa đầu lục giác, hoặc phổ thông hơn là tua-nơ-vít có đầu phù hợp với ốc trên loa.
Một số loại loa thùng đặc biệt sẽ đặt loa nằm phía sau, với phần loa thường được gắn chặt với miếng ván loa thông qua một tấm đệm. Khi tháo hết ốc ra thì bạn cần nhẹ nhàng tách 2 bộ phận này, để đảm bảo không làm hỏng bất cứ bộ phận nào. Quá trình tháo loa khỏi thùng cần thực hiện một cách cẩn thận, tránh trầy xước thùng loa, gây mất thẩm mĩ.
Phần quan trọng nhất trong quá trình này đó là việc tháo dây nối giữa driver và mạch phân tần. Dây nối có thể được hàn vào loa hoặc nối bằng cách cài hoặc cắm. Cẩn thận mỗi khi tháo dây ra khỏi loa treble vì đầu nối dây được đặt ở vị trí rất nhạy cảm. Nó rất dễ vỡ nếu bạn dùng quá nhiều lực hoặc dễ chảy nếu bị hàn quá nóng.
Một mẹo nhỏ mà bạn có thể áp dụng đó là hãy đánh dấu màu sắc của từng loại dây nối các loại driver riêng biệt, để khi ghép lại đảm bảo sự chính xác. 

2. Tùy chỉnh vật liệu hút âm trong thùng loa

vat lieu hut am cho thung loa
Vật liệu hút âm trong thùng loa có thể là mút hoặc xốp
Vật liệu hút âm là một khái niệm mới mà mình chưa đề cập với các bạn trong bài viết trước đây. Nó được đặt trong thùng loa với nhiệm vụ hấp thu, giảm phản xạ âm thanh tần số trung và các âm bass phía trong thùng. Thường thì vật liệu hút âm sẽ được làm dưới dạng sợi bông màu trắng hoặc mút xốp màu cam. Có hai loại xốp: Loại rẻ tiền thường cứng và nhám do đó ít có tác dụng. Loại thứ hai mềm và thấm hơn.
Các bạn cần lưu ý đến cách phân bố sợi bông và nút phía trong trước khi tháo ra khỏi thùng. Đôi khi sẽ gặp phải trường hợp không tìm thấy vật liệu hút âm, hoặc có rất ít tấm bông và mút trong thùng loa. Lí do cho hiện tượng này có thể là do nhà sản xuất muốn loa của họ có tiếng bass vang to, hoặc có thể là một cách để tiết kiệm chi phí. Nếu bạn cảm thấy những tiếng bass của loa mình chưa như mong muốn thì đây chính là thứ bạn cần nâng cấp.
Tăng vật liệu hút âm trong thùng loa sẽ có thể giúp các bạn giảm những tiếng ồn của âm bass, và mang lại những âm thanh sáng hơn ở dải tần âm trung. Tuy nhiên thì không phải cứ tăng càng nhiều càng tốt, mà nên thử từ từ, sau đó nghe lại âm thanh, điều chỉnh âm lượng xem đã vừa ý chưa, sau đó điều chỉnh lượng vật liệu hút âm phù hợp. Mút xốp trong thùng loa có hai chức năng: Hút âm xung quanh thùng loa và giảm độ vang tần số trung và bass.

3. Đối với thùng loa có lỗ dội âm (thùng bass reflex)

thung loa bass reflex
Thùng loa bass reflex
Ở các loại thùng loa có lỗ dội âm (thùng bass reflex), phần vật liệu hút âm thưởng sẽ chỉ là một lớp mỏng xung quanh vách thùng. Ở phần rỗng giữa thùng, bạn có thể đặt những loại sợi nhẹ và xốp để luồng không khí có thể truyền qua. Trường hợp này cũng cần chú ý đến lượng mút xốp phù hợp, để đảm bảo cho hiệu quả âm thanh mà cổng reflex mang lại. 
Thành thùng loa có lớp xốp dày khoảng 25 mm là lý tưởng. Ngoài ra, bạn có thể thay thế bằng tấm nỉ dạ - bạn phải dính keo vì nó không chắc như bọt. Độ dày của bọt hoặc tấm nỉ sẽ giảm sự truyền âm thanh thông qua thành thùng và giảm tiếng dội từ phía trong thùng.
Đón đọc bài viết Nâng cấp thùng loa - P.2 trong thời gian tới nhé.